Việc Hot

Tính trợ cấp thôi việc

Nhập thời gian làm việc và thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp để biết phải trả bao nhiêu.

tháng
tháng
VNĐ
tháng

Mỗi năm được tính trợ cấp tương ứng nửa tháng lương.

Tiền trợ cấp phải trả

0 ₫

Số năm được tính

0 năm

Nhập thời gian làm việc ở trên để xem kết quả.

Chi tiết cách tính

Thời gian làm việc thực tế0 tháng
Trừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp0 tháng
Thời gian được tính trợ cấp0 tháng
Tiền trợ cấp phải trả0 ₫
Hướng dẫn

Trợ cấp thôi việc: nửa tháng lương cho mỗi năm làm việc, nhưng phải trừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp

7 mụcĐọc khoảng 6 phútCập nhật 02/10/2026

Nghỉ việc sau mười năm gắn bó, nhiều người đinh ninh sẽ nhận trợ cấp thôi việc bằng năm tháng lương, rồi ngỡ ngàng khi phòng nhân sự báo con số chỉ vài triệu đồng. Lý do nằm ở một phép trừ: thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính. Bài này nói rõ ai được hưởng, cách xác định thời gian tính, quy tắc làm tròn nửa năm và bốn ví dụ bằng số tính đúng theo công cụ ở đầu trang.

Ai được hưởng trợ cấp thôi việc

Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, khi hợp đồng lao động chấm dứt trong các trường hợp luật định, người sử dụng lao động trả trợ cấp thôi việc cho người đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được nửa tháng tiền lương. Gặp nhiều nhất là hết hạn hợp đồng, hai bên thoả thuận chấm dứt, hoặc người lao động đơn phương chấm dứt đúng luật với thời hạn báo trước 45, 30 hay 3 ngày làm việc theo Điều 35.

Người đủ điều kiện hưởng lương hưu, người tự ý bỏ việc từ 5 ngày làm việc liên tục không có lý do chính đáng và người đơn phương chấm dứt trái luật không được nhận; công cụ ở đầu trang cũng ghi rõ không áp dụng với trường hợp bị sa thải.

Điều kiện
Từ đủ 12 thángLàm việc thường xuyên cho một người sử dụng lao động
Mức trợ cấp
Nửa tháng lươngCho mỗi năm được tính
Tiền lương tính
Bình quân 6 thángTheo hợp đồng lao động, liền kề trước khi nghỉ
Thời hạn trả
14 ngày làm việcKể từ ngày chấm dứt hợp đồng, Điều 48

Thời gian tính trợ cấp: trừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp

  1. Thời gian làm việc thực tếTính theo tháng
  2. Trừ thời gian đã đóng BHTNTheo sổ bảo hiểm
  3. Trừ thời gian đã được trả trợ cấpNếu có
  4. Thời gian tính trợ cấpLàm tròn năm
  5. Nhân nửa tháng lươngBình quân 6 tháng

Thời gian tính trợ cấp bằng tổng thời gian làm việc thực tế cho công ty trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và trừ thời gian đã được trả trợ cấp trước đó. Bảo hiểm thất nghiệp đã thay vai trò của trợ cấp thôi việc cho giai đoạn có đóng, nên với người đi làm chưa lâu, phép trừ này thường ra số không.

Phần còn lại, nếu có, hay rơi vào ba chỗ: những tháng thử việc theo hợp đồng thử việc riêng chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp; những năm làm việc trước khi có chính sách này với người thâm niên cao; và những khoảng công ty không đóng cho bạn, mà bạn có quyền yêu cầu truy đóng. Công ty đóng đầy đủ từ ngày đầu thì trợ cấp thôi việc bằng không là bình thường: lúc nghỉ, bạn nhận trợ cấp thất nghiệp từ cơ quan bảo hiểm thay vì từ công ty.

Làm tròn năm và tiền lương dùng để tính

Nghị định 145/2020 quy định số tháng lẻ từ đủ 1 đến 6 tháng tính thành nửa năm, trên 6 tháng tính tròn một năm: 24 tháng là 2 năm, 7 tháng là 1 năm, 6 tháng là 0,5 năm. Công cụ tách phần năm tròn rồi xét riêng phần lẻ đúng cách này, nên chỉ lệch một tháng, từ 6 lên 7, số năm được tính đã nhân đôi; hãy kiểm tra ngày vào làm thực tế và ngày bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi bàn về mức lương.

Tiền lương để tính là bình quân tiền lương theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ, gồm mức lương, phụ cấp lương và khoản bổ sung ghi trong hợp đồng; thưởng doanh số, tiền ăn trưa, xăng xe trả theo quy chế thường không nằm trong đó. Có đợt tăng lương trong 6 tháng cuối thì cộng từng tháng rồi chia 6.

Bốn ví dụ tính trợ cấp thôi việc bằng số

Giả định: thời gian ghi theo tháng tròn, chưa từng được trả trợ cấp thôi việc, lương bình quân 6 tháng liền kề như cột lương, không có tháng nghỉ không hưởng lương.
Trường hợpLàm việc thực tếĐã đóng BHTNThời gian tínhLàm trònLương bình quânTrợ cấp
Kế toán tổng hợp, công ty đóng BHTN từ năm thứ baLàm việc thực tế120 thángĐã đóng BHTN96 thángThời gian tính24 thángLàm tròn2 nămLương bình quân20.000.000Trợ cấp20.000.000
Nhân viên kinh doanh, 7 tháng đầu chưa đóngLàm việc thực tế100 thángĐã đóng BHTN93 thángThời gian tính7 thángLàm tròn1 nămLương bình quân15.000.000Trợ cấp7.500.000
Kỹ thuật viên, 6 tháng đầu chưa đóngLàm việc thực tế54 thángĐã đóng BHTN48 thángThời gian tính6 thángLàm tròn0,5 nămLương bình quân18.000.000Trợ cấp4.500.000
Lập trình viên, đóng BHTN từ ngày đầuLàm việc thực tế36 thángĐã đóng BHTN36 thángThời gian tính0 thángLàm tròn0 nămLương bình quân20.000.000Trợ cấp0

Trường hợp đầu nhận 2 năm × 0,5 × 20 triệu = 20 triệu đồng. Trường hợp hai chỉ hơn trường hợp ba đúng một tháng chưa đóng bảo hiểm, nhưng 7 tháng làm tròn thành một năm còn 6 tháng chỉ là nửa năm, nên số năm gấp đôi. Trường hợp cuối làm 3 năm vẫn nhận 0 đồng mà công ty không sai; làm 10 tháng thì công cụ báo chưa đủ điều kiện. Từng được trả trợ cấp cho 12 tháng ở lần nghỉ trước thì nhập 12 vào ô "Thời gian đã được chi trả trợ cấp": thời gian tính còn 12 tháng, trợ cấp còn 10 triệu đồng.

Trợ cấp thôi việc khác trợ cấp mất việc làm

Trợ cấp mất việc làm theo Điều 47 áp dụng khi bạn mất việc vì công ty thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế. Mức là một tháng lương cho mỗi năm làm việc và ít nhất bằng hai tháng lương. Với dữ liệu của kế toán tổng hợp ở bảng trên, thôi việc được 20 triệu, mất việc làm được 40 triệu đồng. Khi công ty cắt giảm nhân sự mà gợi ý bạn "viết đơn xin nghỉ cho đẹp hồ sơ", bạn đang đổi khoản gấp đôi lấy khoản bằng một nửa.

Nội dungTrợ cấp thôi việcTrợ cấp mất việc làm
Khi nàoTrợ cấp thôi việcHết hạn hợp đồng, thoả thuận chấm dứt, đơn phương chấm dứt đúng luậtTrợ cấp mất việc làmMất việc do công ty thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế
MứcTrợ cấp thôi việcNửa tháng lương mỗi nămTrợ cấp mất việc làmMột tháng lương mỗi năm
Tối thiểuTrợ cấp thôi việcKhông có mức sànTrợ cấp mất việc làmÍt nhất hai tháng lương
Căn cứTrợ cấp thôi việcĐiều 46 Bộ luật Lao độngTrợ cấp mất việc làmĐiều 47 Bộ luật Lao động

Nhận tiền và giấy tờ trong 14 ngày làm việc

Điều 48 cho hai bên 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng để thanh toán đầy đủ lương những ngày đã làm, tiền phép năm chưa nghỉ và trợ cấp thôi việc; công ty còn phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại giấy tờ. Bản xác nhận này cần cho hồ sơ trợ cấp thất nghiệp, nộp trong 3 tháng kể từ ngày nghỉ, nên đừng rời công ty khi chưa cầm được nó.

  • Ghi lại ngày vào làm thực tế, kể cả thời gian thử việc, và ngày bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp theo sổ bảo hiểm.
  • Lấy bảng lương 6 tháng cuối để tự tính bình quân, so với con số phòng nhân sự dùng.
  • Nhập các số này vào công cụ ở đầu trang và đối chiếu từng dòng với bảng thanh toán của công ty.
  • Nếu lệch, hỏi rõ công ty tính thời gian và tiền lương theo cách nào trước khi ký nhận.
  • Giữ bản sao hợp đồng, phụ lục, quyết định chấm dứt và bảng thanh toán để làm hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp.

Ví dụ đoạn đề nghị thanh toán trong đơn xin thôi việc

Tôi đề nghị Công ty thanh toán lương đến ngày làm việc cuối cùng, tiền phép năm chưa nghỉ và trợ cấp thôi việc cho thời gian chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp (03/2016 đến 02/2018), xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại hồ sơ cá nhân trong 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng.

Câu hỏi thường gặp

Bằng không, vì thời gian tính trợ cấp là thời gian làm việc trừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp; bù lại bạn nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong 3 tháng kể từ ngày nghỉ.

Trên 6 tháng làm tròn thành một năm, từ đủ 1 đến 6 tháng tính nửa năm: lẻ 7 tháng với lương bình quân 15 triệu được 7,5 triệu, lẻ 6 tháng chỉ được 3,75 triệu đồng.

Bình quân tiền lương theo hợp đồng của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ, gồm mức lương, phụ cấp lương và khoản bổ sung ghi trong hợp đồng; thưởng và hỗ trợ theo quy chế thường không tính.

Không. Chấm dứt trái luật làm mất trợ cấp thôi việc và còn phải bồi thường nửa tháng lương cộng tiền lương những ngày không báo trước; báo trước đủ 45, 30 hoặc 3 ngày làm việc rồi nghỉ thì vẫn được hưởng.

Sử dụng cookie

Việc Hot sử dụng cookie để duy trì đăng nhập, lưu nội dung đang soạn và ghi nhớ tuỳ chọn của bạn. Xem chi tiết tại Chính sách cookie.